Xửa trí, chăm sóc BN sốc phản vệ

Sốc phản vệ xuất hiện 1-2 phút sau khi đưa vào cơ thể dị nguyên, biểu hiện một hội chứng lâm sàng bằng tình trạng tăng tính thấm thành mạch và nhaỵ cảm quá mức của phế quản, do hoạt động của các chất trung gian hoá học của cơ thể được giải phóng ngay sau khi có các yếu tố gây sốc.

Xửa trí, chăm sóc BN sốc phản vệShock phản vệ là một cấp cứu, có nguy cơ tử vong rất cao cần phải cấp cứu ngay lập tức và tại chỗ, khi tình trạng cho phép mới chuyển đến khoa hồi sức của bệnh viện tiếp tục điều trị, theo dõi và chăm sóc.
1 Các yếu tố hay gặp gây sốc phản vệ
• Kháng sinh: Penicilin, Streptomycin.
• Vitamin C.
• Thuốc gây tê Lidocain.
• Thuốc cản quang có iot.
• Huyết thanh.
• Vacxin
• Các chế phẩm máu: huyết tương, tiểu cầu…
• Nọc của sinh vật: nọc ong, nọc rắn, bò cạp…
2. triệu chứng lâm sàng
Xuất hiện ngay hoặc rất sớm (vài giây, vài phút, vài giờ nếu là thuốc viên) sau khi người bệnh tiếp xúc với các tác nhân gây dị ứng.
• Bắt đầu người bệnh ngứa, nóng ran, cảm giác kiến bò, kim châm, thường gặp, có tính chất báo hiệu.
• Huyết áp tụt (huyết áp tâm thu < 90mmHg), có khi không đo được, mạch nhanh nhỏ hoặc không bắt được ( > 120 lần/phút). Có thể loạn nhịp tim.
• Da xung huyết đỏ, đầu chi ấm nóng (sốc nóng). Người bệnh bị giãn mạch sau đó lại bị co mạch đó là điều khác với các sốc khác.
• Triệu chứng hô hấp:
• Tức ngực khó thở.
• Co thắt phế quản giống như hen: khó thở ra, nghe có ran rít hai bên phổi. Tăng tiết nhiều dịch ở phế quản.
• Khó thở thanh quản (do co thắt và phù nề thanh môn)
• Thường có đau bụng, buồn nôn, nôn, ỉa chảy.
• Giãy dụa, hôn mê nếu sốc phản vệ do Penicilin thì có biểu hiện mền đay, ngứa.
• Xuyết huyết nội tạng (xuất huyết tiêu hoá)
3. Các nguy cơ
Người bệnh có nguy cơ tử vong rất cao do suy hô hấp, suy tuần hoàn cấp. Do đó cần cấp cứu ngay tại chỗ, phải đảm bảo được hô hấp và tuần hoàn trong khi vận chuyển bệnh nhân đến cơ sở có đủ điều kiện điều trị và theo dõi dự phòng sốc tái phát.
Sốc phản vệ luôn có nguy cơ xuất hiện trở lại trong nhiều giờ sau, do vậy cần được theo dõi sát tối thiểu 48 giờ ở cơ sở y tế.
4. Xử trí cấp cứu
4.1. Tại chỗ
• Ngừng ngay tiếp xúc với dị nguyên (thuốc đang tiêm, uống, bôi, nhỏ măt, mũi…).
• Đặt bệnh nhân nằm tại chỗ, đầu thấp, chân cao
• Dùng adrenalin là thuốc cơ bản để chống sốc phản vệ: ống 1mg/ml (1/1000). Dùng ngay sau khi bị sốc phản vệ.
• Đường dùng: tiêm dưới da hoặc tiêm bắp. Liều dùng: người lớn: 0.5 – 1 ống. Trẻ em, pha loãng 1 ống với 9ml nước cất thành 10ml (dung dịch 1/10.000). Tiêm 10àg /kg cân nặng/ 1 lần.
• Tiêm nhắc lại như trên sau 10 – 15 phút cho đến khi huyết áp lên đến 10mmHg
• Nếu sốc nặng có thể pha loãng adrenalin 1/20 rồi tiêm tĩnh mạch, bơm qua nội khí quản.
• Theo dõi huyết áp 10 – 15 phút/lần.
• Nhanh chóng gọi bác sĩ và người đến hỗ trợ.
4.2. Tại cơ sở y tế
Tuỳ theo điều kiện trang thiết bị y tế có thể áp dụng các biện pháp sau:
4.2.1. Xử trí suy hô hấp:
• Cho thở oxy 6-8 lít/phút, nên cho thở qua mặt nạ. Nếu suy hô hấp ngày càng nặng lên, thở oxy không kết quả: bóp bóng ambu qua mặt nạ có oxy 100%.
• Chuẩn bị dụng cụ phụ bác sĩ đặt nội khí quản hoặc mở khí quản nếu có phù nề thanh môn gây khó thở thanh quản cấp.
• Cho bệnh nhân thở máy với oxy 100% trong giờ đầu.
4.2.2. Thiết lập đường truyền tĩnh mạch
• Sử dụng adrenalin để duy trì huyết áp với liều 0.1àg /kg cân nặng/ phút, liều điều chỉnh theo huyết áp.
• Truyền dịch tĩnh mạch chậm aminophylin 1mg/kg/giờ hoặc Terbutalin 0.2mcg/kg/phút (theo y lệnh), NaCl 0.9%, có thể dung các dung dịch cao phân tử.
4.2.3. Các thuốc khác:
• Corticoid: Solu-medrol, Depersolon, hydrocortison…,có thể dùng khí dung.
• Băng ép chi phía trên chỗ tiêm hoặc đường vào của nọc độc.
5. chăm sóc người bệnh sốc phản vệ
• Để bệnh nhân nằm: đầu thấp, chân kê cao để đảm bảo tuần hoàn não. Điều dưỡng có mặt liên tục bên cạnh bệnh nhân để họ yên tâm, không lo lắng.
• Duy trì hô hấp: thông thoáng đường hô hấp, hút đờm rãi, cho bệnh nhân thở oxy (theo y lệnh). Nếu bệnh nhân có suy hô hấp nặng phải phối hợp với bác sỹ đặt nội khí quản hoặc mở khí quản cho bệnh nhân thở máy và theo dõi máy thở, nếu có chống máy phải báo bác sỹ ngay.
• Phục hồi thể tích tuần hoàn: cầm máu nếu có xuất huyết xảy ra, phụ bác sĩ đặt catheter tĩnh mạch trung tâm, mục đích để theo dõi áp lực tĩnh mạch trung tâm để bù dịch, máu, theo dõi khối lượng tuần hoàn và theo dõi diễn biến của sốc.
• Thực hiện các y lệnh nhanh chóng và kịp thời, chính xác: tiêm, truyền dịch cho bệnh nhân, lấy máu làm xét nghiệm cấp ( nên lấy tĩnh mạch bẹn vì dễ lấy khi cấp cứu), đo điện tâm đồ, X quang tim phổi…
• Theo dõi các dấu hiệu sống 10 phút 1 lần đến khi huyết áp tối đa lên đến 100 mmHg sau đó cứ 30 phút do 1 lần đến khi tiến triển tương đối tốt thì 1 giờ đo huyết áp 1 lần để đánh giá sự tiến triển của sốc và xử trí kịp thời.
• Theo dõi sự bài tiết : đặt thông tiểu để lưu thông và theo dõi lượng nước tiểu từng giờ, nếu nước tiểu ít, vô niệu trong 6 giờ đầu là tiên lượng bệnh nhân xấu, báo ngay bác sĩ
• Đặt thông dạ dày để theo dõi xuất huyết nếu có, và nuôi dưỡng bệnh nhân nếu như bệnh nhân không ăn được đường miệng.
• Theo dõi tình trạng ý thức của bệnh nhân
• Cuối cùng mọi quan sát theo dõi và hành động chăm sóc điều dưỡng đều phải ghi lại đầy đủ, chính xác, chi tiết để bác sỹ có thông tin cùng phối hợp để xử trí và chăm sóc bệnh nhân
• 6. Các biện pháp phòng ngừa
• Trước khi dùng thuốc phải hỏi người bệnh hoặc người nhà tiền sử dị ứng thuốc. Người bệnh sốc phản vệ trước khi ra viện cần ghi rõ tên thuốc (chất) gây dị ứng để họ biết rõ.
• Phải làm test kháng sinh trước khi tiêm.
• Phải cảnh giác với tất cả các bệnh nhân có nguy cơ sốc, các bệnh nhân này cần chẩn đoán và nhận ra sốc trước khi nó thực sự xảy ra
• Chăm sóc chu đáo cả về thể chất và tinh thần cho những bệnh nhân có nguy cơ sốc là tốt nhất để phòng ngừa sốc xảy ra.
• Phải luôn có sẵn trong tay các phương tiện, dụng cụ thuốc men các loại: dịch thay thế để sẵn sàng khi sốc xảy ra.
• Thực hiện động viên tngười bệnh
• Đặt bệnh nhân nằm ngửa thoải mái tạo điều kiện tốt cho tuần hoàn và hô hấp
• Theo dõi liên tục các chỉ số sinh tồn, nước tiểu cho đến khi sốc hoàn toàn không còn được nghĩ đến.
• Hộp chống sốc luôn sẵn sàng gồm có:
• Adrelanin 1mg 02 ống
• Nước cất pha tiêm 02 ống
• Solumedrol, Deprenisolon: 2 ống
• Bơm kim tiêm 5 hoặc 10ml 2 bộ
• Bông, gạc, cồn, dây chun, kìm kose
• Phác đồ cấp cứu sốc phản vệ (đã được thống nhất).
7. Đánh giá
• Người bệnh sốc phản vệ được chăm sóc tốt khi tình trạng lâm sàng của bệnh nhân được cải thiện, kiểm sóat được hô hấp, tuần hoàn, bài tiết, tiêu hoá.
• Phát hiện sớm các dị nguyên, cách ly có hiệu quả dị nguyên.
• Bệnh nhân được theo dõi chặt chẽ không để xảy ra biến chứng.
• Các y lệnh của bác sỹ như thuốc men, xét nghiệm, các thủ thuật được thực hiện nhanh chóng, chính xác, đầy đủ.
• Các chăm sóc cơ bản được thực hiện đầy đủ, đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân.
• Bệnh nhân và gia đinh yên tâm, hợp tác điều trị.

TH (Nguồn: Khoa điều trị tích cực – BV Bạch Mai)

Xửa trí, chăm sóc BN sốc phản vệ

Bài cùng chủ đề

2 Responses to “Xửa trí, chăm sóc BN sốc phản vệ”

  1. bacsijom

    Tháng 4 18. 2012

    thank! bai viet nay rat hay va huu ich!

    Reply to this comment
  2. hts

    Tháng 5 13. 2013

    bài viết này thật hay và hữu ích.

    Reply to this comment

Leave a Reply

Paged comment generated by AJAX Comment Page