Bệnh viện Hữu Nghị (Việt Xô)

Tiền thân của Bệnh viện Hữu Nghị là bệnh xá 303 thành lập năm 1950 để chăm lo sức khỏe cho cán bộ, nhân viên cơ quan Đảng và Chính phủ, có 15 giường bệnh với 10 nhân viên y tế do BS Nhữ Thế Bảo phụ trách.

Năm 1954, bệnh xá 303 tăng lên 30 giường, có 25 nhân viên y tế đóng tại chiến khu Việt Bắc.

Bệnh viện Hữu Nghị (Việt Xô)Hòa bình lập lại, cơ quan của Đảng và Chính phủ về Hà Nội, bệnh xá 303 đóng tại bệnh viện Đồn Thủy (Nhà số 2 khoa A1 và nhà số 5 khoa ngoại cũ). Năm 1955 Trung ương quyết định mở rộng bệnh xá thành Bệnh viện 303; Bệnh viện 303 có nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe và chữa bệnh cho các đồng chí Trung ương. Nhu cầu khám chữa bệnh cho cán bộ ngày một tăng, Trung ương Đảng đề nghị với Đảng Cộng sản Liên Xô giúp xây dựng Bệnh viện để bảo vệ chăm sóc sức khỏe cho cán bộ. Hội Hồng thập tự Liên Xô đã được giao nhiệm vụ xây dựng bệnh viện. Đến tháng 5/1956 Bệnh viện Hồng thập tự Liên Xô được khai trương (tại địa điểm của Bệnh viện 303). Có 150 giường bệnh với 50 chuyên gia Liên Xô và 150 cán bộ nhân viên làm việc do Bác sĩ DeDog làm giám đốc, Bác sĩ Nguyễn Văn Thủ làm Phó giám đốc. Cuối năm 1957 chuyên gia Liên Xô rút về nước, Bệnh viện Hồng thập tự Liên Xô được bàn giao cho ta quản lý. Nghị định 163-NĐ/TTg ngày 28/3/1958 của Thủ tướng Chính phủ hợp nhất bệnh viện Hồng Thập Liên Xô vào Bệnh viện 303 thành một Bệnh viện lấy tên là Bệnh viện Hữu Nghị Việt Xô do Bác sĩ Nhữ Thế Bảo làm Giám đốc.

Bệnh viện được Đảng, Nhà nước và Bộ Y tế giao nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh nội ngoại trú cho các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, các cán bộ cao cấp, trung cấp của các cơ quan Trung ương và các tỉnh, thành phố từ tỉnh Vĩnh Linh. Khi mới thành lập Bệnh viện chỉ có 11 khoa phòng, có 175 cán bộ viên chức (trong đó có 15 bác sĩ, dược sĩ). Năm 1958 – 1962 có 150 giường bệnh, năm 1963 tăng lên 300 giường. Năm 1968 tăng lên 470 giường đáp ứng kịp thời yêu cầu khám chữa bệnh cho cán bộ. Cũng trong thời kỳ này các tổ Bảo vệ sức khỏe 2, 3, 5 ra đời để phục vụ Bảo vệ chăm sóc sức khỏe cho các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và chính phủ.

Năm 1973 các khu sơ tán chuyển về Hà Nội. Từ khi thành lập Bệnh viện đến ngày thống nhất nước năm 1975 dù trong hoàn cảnh khó khăn, phải sơ tán nhiều nơi, Bệnh viện đã hoàn thành nhiệm vụ Đảng và Nhà nước giao cho.

Sau đại thắng mùa Xuân 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, Bệnh viện Hữu Nghị Việt Xô được giao nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe và điều trị bệnh cho các cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước, các cán bộ trung cao cấp (đương chức cũng như nghỉ hưu) của các cơ quan Trung ương và các tỉnh, thành phố từ Thừa Thiên Huế trở ra, các đồng chí lãnh đạo của các nước như Lào, Campuchia, cán bộ đại sứ quán các nước.

Tháng 3/1976 đối tượng phục vụ có thay đổi, Bệnh viện chỉ quản lý sức khỏe cho cán bộ nam có mức lương từ chuyên viên 2 trở lên, cán bộ nữ có mức lương từ chuyên viên 1 trở lên. Cán bộ dưới mức lương qui định trên chuyển về khám chữa bệnh tại Bệnh viện E; cán bộ miền Trung khám chữa bệnh tại Bệnh viện C Đà Nẵng. Khu nhà nghỉ Quảng Bá lấy lại cơ sở nên số giường giảm chỉ còn 200 giường, sau đó tăng dần 300 giường (1982); 410 giường năm 1994.

Ngày 14/11/1994 Chính phủ có quyết định số 6388/TCCB đổi tên Bệnh viện Hữu Nghị Việt Xô thành Bệnh viện Hữu Nghị. Đến nay Bệnh viện Hữu Nghị phát triển thành một Bệnh viện đa khoa hạng I. Có 25 khoa lâm sàng, 8 khoa cận lâm sàng và 7 phòng chức năng với 750 biên chế trong đó:

Giáo sư: 01

Phó Giáo sư: 02

Tiến sĩ: 22

Thạc sĩ: 44

Bác sĩ chuyên khoa cấp II: 15

Bác sĩ chuyên khoa cấp I: 52

Bác sĩ – Dược sĩ Đại học: 194

Đại học khác: 33

Cán bộ trung học: 33

Cử nhân – Điều dưỡng cao đẳng: 12

Cán bộ sơ học, công nhân, hộ lý: 52

Số giường bệnh hiện nay là 550 giường, chỉ tiêu là 410 giường. Hàng năm có khoảng 10.000 – 13.000 lượt cán bộ vào nằm viện và 200.000 lượt cán bộ tới khám chữa bệnh ngoại trú.

Hoài Nam – Nguồn từ website bệnh viện Hữu Nghị

Bệnh viện Hữu Nghị (Việt Xô)

One Response to “Bệnh viện Hữu Nghị (Việt Xô)”

  1. Hoàng Trung Âu

    Tháng 7 29. 2011

    Bệnh viện Hữu nghị thật là vô cảm đối với các đối tượng là Thương binh và gia đình Liệt sĩ thể hiện như sau:
    - Tiêu chuẩn khám chữa bệnh tại bệnh viện đối với Thương binh và gia đình Liệt sĩ không được quan tâm, còn kém cả chế độ đãi ngộ với phụ nữ ( tiêu chuẩn bậc lương để khám chữa bệnh tại BVHN, nữ giới thấp hơn nam giới, trong khi đó không đề cập tới bậc lương củaThương binh và gia đình Liệt sĩ là nam giới)
    - Từ đầu năm 2010 BVHN bãi bỏ việc ưu tiên xếp hàng lấy số khám bệnh tại phòng khám B với lý do: “quá nhiều người có thẻ Bảo hiểm y tế H2″. Lý do thật quá phiến diện và hời hợt. Thưa ông viện trưởng : Không phải ai có “Bảo hiểm ý tế H2″ cũng là Thương binh và gia đình Liệt sĩ. Số người là Thương binh và gia đình Liệt sĩ có tiêu chuẩn khám tại bệnh viện Hữu nghị là rất ít, có lẽ chỉ 1-2%. Tình cảnh một số đồng chí Thương bình và bố mẹ Liệt sĩ già chầu trực lấy số khám bệnh tại phòng khám B thật đáng lưu tâm, có thương binh vữa bị thương ở chân,vừa bị điếc đứng chầu chực đau đớn hàng tiếng đồng hồ ở trước cửa phòng phát số bị các nhân viên phát số nhắc nhở mắng mỏ ( nếu không đứng gần không nghe thấy vì điếc). Bố mẹ liệt sĩ già ốm yếu, con cháu phải đưa đi khám bệnh vẫn phải chầu chực hàng tiếng đồng hồ hết lấy số, khám, đóng dấu, lấy thuốc … Thật hết chỗ nói. Nếu khôi phục việc ưu tiên lấy số khám và chữa bệnh thật quá đơn giản: Ai có giấy chứng nhận Thương binh và gia đình Liệt sĩ thì được ưu tiên, Giấy chứng nhận là Thương binh và gia đình Liệt sĩ ai cũng có, kích cỡ đủng bằng Thẻ BHYT
    - Việc khám và điều trị cho Thương binh và gia đình Liệt sĩ cũng không có bất cứ quan tâm nào hơn.

    Reply to this comment

Leave a Reply

Paged comment generated by AJAX Comment Page