Phòng và sơ cứu rắn cắn

Mặc dù trong hai họ rắn thường gặp ở nước ta, rắn hổ có thể chủ động tấn công người nhưng trên thực tế, phần lớn các trường hợp bị rắn cắn là do con người chủ động bắt rắn hoặc trêu rắn (vô tình hoặc cố ý làm cho rắn cảm thấy bị đe doạ). Trong lao động để tránh Phòng và sơ cứu rắn cắnđược hoàn toàn không bị rắn cắn là rất khó. Các biện pháp sau có thể giúp giảm nguy cơ bị rắn cắn:

1.Rắn độc và rắn không độc:
-    Phân biệt rắn độc và rắn không độc nhiều khi rất khó. Tuy nhiên ở Việt Nam, chúng ta có thể nhận ra được một số loại rắn độc thường gặp dựa vào các đặc điểm đặc trưng bên ngoài của rắn: rắn hổ mang (khi chuẩn bị tấn công thì cổ bạnh, phát âm thanh đặc trưng), rắn cạp nong (thân mình “khúc trắng khúc đen”), rắn cạp nia (thân mình “khúc vàng khúc đen”), họ rắn lục (đầu to so với thân mình, hình quả trám).

-    Rắn độc có thường có hai răng độc lớn (còn gọi là móc độc) và thường ở vị trí răng cửa hàm trên, do đó khi cắn thường để lại vết cắn đặc trưng có thể giúp phân biệt rắn độc. Răng độc đóng vai trò như một kim tiêm dưới da hoặc tiêm bắp (một số trường hợp hiếm gặp thì tiêm trực tiếp tĩnh mạch) dẫn nọc độc vào cơ thể nạn nhân. Một số loại rắn hổ mang mặc dù ở cách nạn nhân một khoảng cách vẫn có thể phun nọc độc về phía nạn nhân và gây tổn thương niêm mạc (mắt), có thể từ đó gây nhiễm độc toàn thân.

2.    Nọc độc:
2.1. Thành phần nọc độc: bao gồm hơn 20 thành phần khác nhau, chủ yếu là protein gồm các enzym và độc tố dạng polypeptide.

2.2.    Số lượng nọc độc được bơm khi bị cắn:

-    Số lượng nọc độc rất thay đổi, tuỳ thuộc nhiều yếu tố: chủng rắn, kích cỡ con rắn, mức độ vết thương cơ học, một răng độc hay cả hai cùng xuyên qua da, số nhát cắn. Bản thân con rắn cũng có thể tự kiểm soát việc nọc độc có được tống ra khi cắn hay không. Có một tỷ lệ các trường hợp bị rắn độc cắn mà số lượng nọc độc được bơm ít, không đủ gây triệu chứng nhiễm độc (gọi  là “vết cắn khô”). Ví dụ, tỷ lệ vết cắn khô với rắn hổ mang có thể tới 30 %.

-    Tuy nhiên rắn độc không bao giờ hết nọc độc, kể cả sau khi đã cắn nhiều lần, rắn cũng không trở nên ít độc hơn sau khi ăn mồi.

2.3.    Động học của nọc độc:

-    Nọc độc trong hầu hết các trường hợp được vận chuyển theo đường bạch huyết về tuần hoàn hệ thống. Một số trường hợp hãn hữu, nọc được bơm trực tiếp vào tĩnh mạch (dễ gây sốc phản vệ, nhiễm độc nhanh hơn).

-    Các yếu tố ảnh hưởng tốc độ hấp thu, mức độ nặng của nhiễm độc và tốc độ thải trừ nọc độc: độ sâu của vết thương, số lượng nọc độc được bơm vào, kích thước và tác dụng của các thành phần có trong nọc, kích cỡ, tuổi, tình trạng bệnh lý khác của nạn nhân đang có và hoạt động của nạn nhân sau khi bị cắn. Do vậy, các độc tố gây hoại tử và các độc tố khác tác dụng tại chỗ có thể có tác dụng lâm sàng hầu như ngay lập tức sau khi cắn hoặc đốt vì chúng đã có sẵn sàng ngay tại cơ quan đích, trong khi đó các độc tố tác dụng trên toàn thân trước hết phải đi vào tuần hoàn hệ thống.

-    Các độc tố có tác dụng trong máu phát huy tác dụng nhanh chóng, các độc tố có cơ quan đích ở ngoài mạch máu như các độc tố thần kinh, độc tố với cơ nói chung phát huy tác dụng chậm hơn hơn. Tuy nhiên, khi biểu hiện lâm sàng thì các triệu chứng thần kinh có thể xuất hiện rất nhanh, sau 60 phút bệnh nhân đã có thể bị liệt.

3. Các loại rắn độc thường gặp ở nước ta:
3.1. Họ rắn hổ (Elapidae):

-    Rắn hổ mang:

+    Rắn hổ mang thường (Naja spp): gây tổn thương tại chỗ nhiều (đau, sưng nề, bọng nước, hoại tử), tiêu cơ vân, suy thận. Có thể liệt cơ, loạn nhịp tim (block nhĩ thất).

+    Rắn hổ mang chúa (Ophiophagus hannah): gây tổn thương tại chỗ (sưng nề, phỏng nước nhưng rất hiếm khi hoại tử), thường có liệt cơ, có thể loạn nhịp tim (block nhĩ thất).

-    Rắn cạp nong, cạp nia (Bungarus spp):

Gây liệt cơ nặng nề, kéo dài, rối loạn thần kinh thực vật (đồng tử giãn, vã mồ hôi, nhịp nhanh xoang, tăng huyết áp, cầu bàng quan). Độc tố không gây tổn thương tại chỗ, vết cắn thường nhỏ, nhiều khi không nhìn thấy, dễ bị bỏ qua.

-    Rắn biển (Hydrophis spp): Gây liệt cơ nặng nề, tan máu, không gây tổn thương tại chỗ.

3.2. Họ rắn lục (Viperidae):

-    ở nước ta thường gặp rắn lục xanh, rắn khô mộc, rắn choàm quạp (ở miền Nam).

-    Gây tổn thương tại chỗ nặng nề, tiêu cơ vân, suy thận, đặc biệt là rối loạn đông máu, giảm tiểu cầu.

4. Nguyên nhân tử vong:
-    Lúc đầu thường do suy hô hấp do liệt cơ hô hấp, cơ hầu họng. Có thể do loạn nhịp tim, tụt huyết áp. Sau đó là do xuất huyết nặng, suy thận, nhiễm trùng nặng.

Sơ cứu rắn độc cắn:

Sau khi bị rắn độc cắn cần tiến hành sơ cứu ngay, trước khi vận chuyển bệnh nhân đến bệnh viện. Có thể người khác giúp đỡ hoặc do bản thân bệnh nhân tự làm.

1.    Mục tiêu của sơ cứu:

-    Làm chậm sự hấp thu của nọc độc về tuần hoàn hệ thống.

-    Bảo vệ tính mạng của bệnh nhân, kiểm soát các triệu chứng nguy hiểm xuất hiện sớm và ngăn chặn các biến chứng trước khi bệnh nhân đến được cơ sở y tế.

-    Vận chuyển bệnh nhân một cách nhanh nhất, an toàn nhất đến cơ sở y tế có điều kiện điều trị thực sự (ví dụ cấp cứu hô hấp, tim mạch tốt hoặc có huyết thanh kháng nọc đặc hiệu).

-    Mục tiêu trên hết: không làm gì có hại thêm cho bệnh nhân !

2.    Các biện pháp sơ cứu được khuyến cáo:

-    Động viên bệnh nhân yên tâm, đỡ lo lắng.

-    Không để bệnh nhân tự đi lại. Bất động chi bị cắn bằng nẹp (vì bất kỳ sự vận động nào của chi hoặc co cơ đều làm tăng sự vận chuyển của nọc độc về tuần hoàn hệ thống). Cởi bỏ đồ trang sức ở chi bị cắn vì có thể gây chèn ép khi chi sưng nề.

-    Cân nhắc biện pháp băng ép bất động với một số loại rắn hổ (rắn cạp nong, cạp nia, hổ mang chúa, rắn biển và một số giống rắn hổ mang thường): băng ép bất động để làm chậm sự xuất hiện triệu chứng liệt. Không băng ép bất động khi rắn lục cắn vì có thể làm nặng thêm tổn thương tại chỗ.

-    Vận chuyển bệnh nhân bằng phương tiện đến cơ sở y tế đồng thời với việc duy trì băng ép, bất động. Nếu bệnh nhân liệt thì khai thông đường hô hấp (tư thế, hút đờm rãi,…), hô hấp nhân tạo.

-    Tránh can thiệp vào vết cắn vì có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng, tăng sự hấp thu nọc và dễ chảy máu thêm.

Kỹ thuật băng ép bất động:

-    Dùng băng rộng khoảng 10 cm, nếu có điều kiện dài ít nhất khoảng 4,5 m. Có thể băng chun giãn, băng vải, hoặc tự tạo từ khăn, quần áo. Không cố cởi quần áo vì dễ làm chi phải vận động, có thể băng đè lên quần áo.

-    Băng tương đối chặt nhưng không quá mức (vẫn còn sờ thấy mạch đập, đủ để luồn một ngón tay giữa các nếp băng).

-    Bắt đầu băng từ ngón chân về phía gốc chi để hết toàn bộ chi.

-    Dùng nẹp cứng (nẹp, miếng gỗ, que, miếng bìa cứng,…) cố định chi với nẹp.

-    Vết cắn ở bàn tay, ngón tay, cẳng tay:

    Băng ép bàn tay, cẳng tay.

    Dùng nẹp cố định cẳng bàn tay.

    Dùng khăn hoặc dây treo quàng lên cổ bệnh nhân.

-    Duy trì băng ép bất động tới khi bệnh nhân đến được cơ sở y tế có khả năng cấp cứu hồi sức hoặc huyết thanh kháng nọc rắn đặc hiệu (bác sỹ là người quyết định tháo băng ép hay không).

-    Vết cắn ở thân mình: ép lên vùng bị cắn nhưng không làm hạn chế cử động thành ngực.

-    Vết cắn ở đầu, mặt, cổ: khẩn cấp vận chuyển bệnh nhân đến bệnh viện.

3.    Chú ý:

-    Không cố bắt hoặc giết rắn. Nếu rắn đã chết hoặc bắt được rắn phải đem cùng với bệnh nhân đến bệnh viện để nhận dạng.

-    Ngay cả đầu rắn đã chết vẫn có thể cắn người, cần cẩn thận khi mang rắn.

4. Không áp dụng các biện pháp sau:

3.1. Garô:

Garô có thể là tắc nghẽn hoàn toàn động mạch, gây đau và rất nguy hiểm vì không thể duy trì lâu (không quá 40 phút), chi rất dễ bị thiếu máu nhanh chóng. Nhiều trường hợp dẫn tới hoại thư và phải cắt cụt chi vì garô.

3.2. Trích, rạch, trâm, chọc tại chỗ:

Không có nghiên cứu nào chứng minh lợi ích. Rõ ràng gây hại thêm cho bệnh nhân (tổn thương thêm mạch máu, thần kinh,…nhiễm trùng thêm)

3.3. Hút nọc độc:

-    Không được chứng minh thấy có lợi ích.

-    Các nhà sản xuất thiết bị hút đặc biệt ủng hộ việc dùng các sản phẩm của họ nhưng các nghiên cứu về hiệu quả không cho thấy độ tin cậy. Các thiết bị hút này không có hiệu quả và thậm chí còn gây thêm tổn thương hoặc số lượng nọc lấy ra ít hơn nhiều so với việc để nọc rắn cùng với dịch tổ chức tại chỗ tự chảy ra.

3.4. Gây điện giật:

-    Chưa bao giờ được chứng minh có lợi ích. Có thể gây hại thêm cho bệnh nhân.

-    Gây điện giật trong sơ cứu rắn cắn mặc dù được các nhà sản xuất thiết bị này ủng hộ nhưng cũng đã được chứng minh không đem lại lợi ích.

3.5. Chườm đá (chườm lạnh)

Đã được chứng minh rõ ràng có thể gây hại

3.6. Đắp các loại thuốc y học dân tộc, hoá chất lên vết cắn:

3.7. Sử dụng “hòn đá chữa rắn cắn”:

Người dân địa phương có thể rất tự tin về các biện pháp chữa trị truyền thống hoặc thuốc dân gian của họ nhưng họ không được phép làm chậm trễ việc sơ cứu và vận chuyển bệnh nhân hoặc làm hại thêm cho bệnh nhân.

Đề phòng rắn cắn:
1.    Biết về loại rắn trong vùng, biết khu vực rắn thích sống hoặc ẩn nấp. Biết về thời gian trong năm, trong ngày và kiểu thời tiết nào rắn thường hoạt động nhất.

2.    Đặc biệt cảnh giác với rắn sau các cơn mưa, khi có lũ lụt, mùa màng thu hoạch và thời gian ban đêm.

3.    Cố gắng đi ủng, dày cao cổ và quần dài, đặc biệt khi đi trong đêm tối, đi ở khu vực nhiều cây cỏ.

4.    Dùng đèn khi đi ban đêm.

5.    Càng tránh xa rắn thì càng tốt: không biểu diễn rắn, không cầm, không đe doạ rắn. Không bẫy rắn, đuổi hoặc dồn ép rắn trong khu vực khép kín.

6.    Cố gắng không nằm ngủ trực tiếp trên nền đất.

7.    Không để trẻ em chơi gần khu vực có rắn.

8.    Không cầm, trêu rắn đã chết hoặc giống như đã chết.

9.    Không sống ở gần các nơi rắn thích cư trú hoặc thích đến như các đống gạch vụn, đống đỏ nát, đống rác, tổ mối, nơi nuôi các động vật của gia đình.

10.    Thường xuyên kiểm tra nhà ở xem có rắn không, nếu có thể thì tránh các kiểu cấu trúc nhà tạo điều kiện thuận lợi cho rắn ở (như nhà mái tranh, tuờng xây bằng rơm, bùn với nhiều hang, hốc hoặc vết nứt, nền nhà nhiều vết nứt).

11.    Để tránh bị rắn biển cắn, người dân chài nên tránh bắt rắn ở trong lưới hoặc dây câu. Đầu và đuôi rắn biển phân biệt có thể bị nhầm. Có nguy cơ bị rắn cắn với những người tắm hoặc giặt ở các vùng nước đục ở cửa sông hoặc một số vùng bờ biển.

HN (Nguồn: BS. Nguyễn Trung nguyên

Phòng và sơ cứu rắn cắn

Bài cùng chủ đề

No comments.

Leave a Reply

Paged comment generated by AJAX Comment Page